1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, chuyển đổi xanh và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, bảo vệ môi trường (BVMT) và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) không còn là nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý nhà nước mà trở thành trách nhiệm chung của toàn xã hội. Các văn kiện của Đảng gần đây, đặc biệt là Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV, tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Trong tiến trình đó, sự tham gia thực chất của người dân được xác định là yếu tố nền tảng bảo đảm tính hợp pháp, hiệu quả và bền vững của chính sách.
Kết quả nghiên cứu tại bốn địa phương (Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ) cho thấy người dân đã có nhận thức khá rõ về vai trò của mình trong chu trình chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH. Tuy nhiên, mức độ tham gia còn phân hóa giữa các nhóm xã hội và đặc biệt hạn chế ở khâu phản biện, đồng kiến tạo chính sách – giai đoạn đòi hỏi thông tin, kỹ năng và không gian thể chế phù hợp. Điều này cho thấy, bên cạnh động lực cá nhân, sự tham gia của người dân còn phụ thuộc mạnh mẽ vào bối cảnh thể chế và môi trường xã hội nơi họ sinh sống.

Trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025, cùng với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản trị môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ngày càng trở nên then chốt. Ở cấp địa phương, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và các thiết chế tự quản cộng đồng như tổ dân phố, thôn, ấp chính là những chủ thể trực tiếp tổ chức thực thi chính sách và kết nối người dân với tiến trình hoạch định, giám sát chính sách.
Trong điều kiện mô hình hai cấp làm thay đổi phương thức vận hành và phân bổ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, không gian và cơ chế tham gia của người dân cũng chịu tác động nhất định. Khi các thiết chế cơ sở hoạt động hiệu quả, minh bạch và có cơ chế tham vấn phù hợp, chúng có thể chuyển hóa nhận thức thành hành động, mở rộng sự tham gia của người dân từ khâu thực thi sang phản biện và đồng kiến tạo chính sách. Ngược lại, nếu thiếu năng lực điều hành, thiếu cơ chế đối thoại và khuyến khích, sự tham gia có thể chỉ dừng lại ở mức hình thức.
Thực tiễn cho thấy vai trò trung gian này chưa được phát huy đồng đều giữa các địa phương. Chất lượng quản trị, mức độ phân quyền thực chất, năng lực cán bộ cơ sở và mức độ gắn kết của các vấn đề môi trường với sinh kế địa phương là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động và duy trì sự tham gia của cộng đồng.
Trên cơ sở dữ liệu khảo sát định lượng với 1.636 người dân tại 16 xã, phường và các kết quả phân tích định tính thông qua tọa đàm chuyên đề, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu tại bốn địa phương Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ, bài viết tập trung làm rõ mức độ, hình thức và động lực tham gia của người dân trong các khâu xây dựng, thực thi và giám sát chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trên nền tảng đó, bài viết phân tích vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và các tổ chức tự quản cộng đồng trong việc kết nối trải nghiệm thực tiễn của người dân với quá trình ra quyết định, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp.
2. Kết quả đánh giá vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và các thiết chế cộng đồng trong thúc đẩy sự tham gia của người dân vào chu trình chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hình 1 phản ánh kết quả khảo sát mức độ đánh giá của người dân tại bốn tỉnh, thành phố đối với vai trò của chính quyền cơ sở và các tổ chức tự quản quần chúng trong việc hỗ trợ, đồng hành và thúc đẩy sự tham gia của người dân, doanh nghiệp cũng như các bên liên quan vào các giai đoạn của chu trình chính sách bảo vệ môi trường (BVMT) và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).
Trên phương diện phân tích chức năng, các vai trò này được hệ thống hóa thành bốn nhóm cơ bản: (i) vai trò cung cấp thông tin và truyền thông chính sách; (ii) vai trò tổ chức tham vấn và tạo lập không gian đối thoại chính sách; (iii) vai trò nâng cao năng lực, hỗ trợ thực thi và tiếp nhận, xử lý phản ánh từ cộng đồng; và (iv) vai trò huy động và điều phối các nguồn lực xã hội phục vụ mục tiêu BVMT và thích ứng với BĐKH. Cách phân nhóm này cho phép tiếp cận vai trò của hệ thống chính trị cơ sở không chỉ dưới góc độ quản lý hành chính mà còn như một chủ thể kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi cho sự tham gia xã hội.
Kết quả khảo sát cho thấy mức độ đồng thuận rất cao của người dân đối với vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức tự quản trong việc thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Tỷ lệ người trả lời lựa chọn phương án “đồng ý” đối với 10 nội dung phản ánh các vai trò nêu trên dao động từ 91,4% đến 96,4%, trong khi tỷ lệ “không đồng ý” luôn duy trì ở mức dưới 9% (xem Hình 1).
Những con số này không chỉ phản ánh sự ghi nhận của người dân đối với nỗ lực của hệ thống chính trị cơ sở, mà còn cho thấy mức độ tin cậy và kỳ vọng xã hội tương đối lớn đối với vai trò điều phối, dẫn dắt và hỗ trợ của chính quyền địa phương trong lĩnh vực môi trường và khí hậu. Đây là một chỉ dấu quan trọng về tính chính danh và năng lực huy động xã hội của hệ thống chính trị cơ sở trong bối cảnh quản trị môi trường đa tác nhân và ngày càng phức tạp hiện nay.
Tuy nhiên, mức độ đồng thuận cao chưa đủ để khẳng định sự tham gia đã đạt đến chiều sâu thực chất. Sự tin tưởng và kỳ vọng của người dân chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những cơ chế minh bạch, bảo đảm đối thoại hai chiều và khả năng tác động thực sự đến quá trình ra quyết định. Nếu vai trò của chính quyền và các tổ chức tự quản chủ yếu dừng lại ở tuyên truyền, vận động, thì sự tham gia có thể vẫn mang tính tiếp nhận và tuân thủ, thay vì phản biện và đồng kiến tạo.
Vấn đề chính yếu không chỉ nằm ở việc người dân “đồng ý” với vai trò của chính quyền, mà ở chỗ họ có thực sự được tham gia vào xác định vấn đề, lựa chọn giải pháp và giám sát thực thi hay không. Khi các kênh phản hồi và giải trình chưa đủ rõ ràng và có tính ràng buộc, niềm tin xã hội dù cao vẫn có thể trở nên mong manh trước những khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tiễn.
Vì vậy, kết quả khảo sát vừa cho thấy một nền tảng tin cậy đáng ghi nhận, vừa đặt ra yêu cầu tiếp tục xem xét cấu trúc quyền lực, năng lực tổ chức và cơ chế phối hợp trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhằm bảo đảm sự tham gia không dừng ở hình thức mà trở thành một quá trình tương tác thực chất và bền vững.
Hình 1: Ý kiến của người dân về vai trò của chính quyền địa phương, tổ chức
tự quản đối với sự tham gia của họ trong hoạch định, thực thi chính sách
Nguồn: Khảo sát của Viện Lãnh đạo học và Hành chính công (ILPA) phối hợp với Quỹ Rosa-Luxemburg (RLS), 2025.
Thứ nhất, vai trò cung cấp thông tin và truyền thông
Nghiên cứu này phát hiện vai trò nổi bật của chính quyền cơ sở và các thiết chế tự quản cộng đồng trong việc cung cấp thông tin và truyền thông về BVMT và thích ứng BĐKH đến người dân. Cụ thể, 92.6% người dân cho biết chính quyền địa phương niêm yết công khai thông tin về kế hoạch BVMT và BĐKH, trong khi 92.8% người dân nhận định các tổ dân phố thường xuyên truyền tải thông tin về hoạt động BVMT trên Internet. Đáng chú ý, có đến 96.0% người dân đồng ý rằng các đoàn thể quần chúng đã tích cực nhắc nhở, vận động họ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Từ góc độ quản trị có sự tham gia, Fung (2006) nhấn mạnh rằng tiếp cận thông tin là điều kiện tiên quyết để người dân tham gia vào quá trình chính sách, bởi thiếu thông tin đồng nghĩa với hạn chế năng lực tham gia.
Mô hình “Cà phê sáng” tại tỉnh Tây Ninh là một minh chứng tiêu biểu cho cách thức truyền thông và đối thoại chính sách có thể được thiết kế như một cơ chế tương tác trực tiếp giữa chính quyền và xã hội. Không chỉ dừng lại ở trao đổi thông tin, mô hình này tạo lập một không gian mở, nơi chính quyền cơ sở trực tiếp lắng nghe và tiếp nhận các nhu cầu, bức xúc và kiến nghị cụ thể của người dân và doanh nghiệp, qua đó kịp thời tháo gỡ nhiều điểm nghẽn trong quản lý.
Trong khuôn khổ mô hình, các phản ánh tập trung vào những vấn đề thiết thực như thủ tục hành chính, đất đai, xây dựng, môi trường, dịch vụ công trực tuyến, hoạt động kinh doanh và an sinh xã hội. Lãnh đạo cấp xã và bộ phận chuyên môn không chỉ giải đáp, hướng dẫn tại chỗ mà còn cam kết theo dõi, phân công trách nhiệm và xác định rõ thời hạn, hình thức phản hồi đối với những vấn đề phức tạp. Cơ chế tiếp nhận – xử lý – phản hồi được vận hành với mức độ trung gian tối thiểu, góp phần tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, mô hình này cho thấy giá trị của một kênh tương tác trực diện, nơi các ý kiến, sáng kiến và phản ánh từ cộng đồng được tập hợp, sàng lọc và chuyển tải thành cơ sở cho hành động chính sách. Qua đó, sự tham gia không chỉ mang tính hình thức mà trở thành quá trình thương lượng, đồng thuận và tìm kiếm giải pháp khả thi ở cấp cơ sở.
Thứ hai, vai trò tổ chức tham vấn chính sách
Trong số 1636 người dân được khảo sát tại 4 tỉnh, thành phố, 92.3% cho biết chính quyền địa phương có tổ chức các hội nghị lấy ý kiến nhân dân đối với các dự thảo quy định BVMT, thích ứng với BĐKH cũng như kế hoạch phân loại rác tại nguồn, bảo đảm vệ sinh môi trường tại các tuyến đường chính, khu dân cư, khu công nghiệp; phương án phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, v.v. Kết quả này phản ánh mức độ tuân thủ tương đối tốt các quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở (năm 2022) và tham vấn cộng đồng trong quá trình xây dựng chính sách.
Tại Hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh với cán bộ, hội viên, đoàn viên Hội Nông dân, Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh do ông Vương Quốc Tuấn, Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh cùng lãnh đạo một số sở, ban, ngành, địa phương cùng 600 đại biểu (ngày 16/12/2024), nhiều kiến nghị - trao đổi và trả lời thẳng thắn tập trung vào việc giải quyết dứt điểm nhiễm khí thải, nước thải, đặc biệt các lò làm mì thôn Tử Nê - xã Tân Lãng. Đây là ví dụ tiêu biểu cho vai trò tổ chức tham vấn , thúc đẩy sự tham gia, đồng kiến nghị và chia sẻ trách nhiệm cộng đồng trách nhiệm giải quyết vấn đề môi trường thời gian qua tại các địa phương.

Thứ ba, vai trò hỗ trợ, nâng cao năng lực cộng đồng góp phần thúc đẩy tham gia và đồng thực thi
Khác với các khâu tham vấn và xây dựng chính sách, vai trò của chính quyền và các tổ chức tự quản nhằm nâng cao năng lực và hỗ trợ thực thi chính sách BVMT, thích ứng với BĐKH được người dân đánh giá rất cao. Cụ thể, 95.6% người dân cho biết chính quyền đã phổ biến kiến thức, kỹ năng ứng phó thiên tai; gần 94% đánh giá cao vai trò của tổ dân phố, thôn bản trong hòa giải các vụ việc môi trường và trên 91% ghi nhận các chương trình xây dựng nhà kiên cố cho hộ nghèo chống bão lũ, v.v. Những kết quả này cho thấy hiệu quả của chính sách công phụ thuộc chặt chẽ vào sự phối hợp giữa Nhà nước và người dân trong quá trình thực thi, trong đó cộng đồng địa phương giữ vai trò không thể thay thế nhờ tri thức bản địa và sự gắn kết xã hội.
Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy hệ thống chính trị cơ sở không chỉ ban hành quy định mà còn trực tiếp tham gia tổ chức thực hiện đồng thời thúc đẩy, hỗ trợ nâng cao năng lực, hỗ trợ sinh kế và giải quyết xung đột môi trường, qua đó tạo điều kiện để người dân trở thành chủ thể thực thi chính sách một cách thực sự. So sánh với các nghiên cứu quốc tế, IPCC (2022) nhấn mạnh rằng các mô hình thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng thường hiệu quả hơn so với cách tiếp cận áp đặt từ trên xuống, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển. Kết quả khảo sát tại tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ cho thấy Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với các mô hình này, nhất là trong việc huy động hệ thống chính trị cơ sở làm “cầu nối” giữa chính sách quốc gia, chính sách này ở cấp độ địa phương với người dân, tổ chức tự quản thông qua tăng cường năng lực và kỹ năng cần thiết cho sự tham gia.
Thứ tư, vai trò ghi nhận và biểu dương đóng góp từ xã hội
Sự tồn tại khá phổ biến của việc ghi nhận, khen thưởng các cá nhân và tập thể tham gia BVMT (92.3%), cũng như sự đóng góp tích cực của doanh nghiệp trong khắc phục hậu quả thiên tai (96.4%). Những kết quả này phản ánh xu hướng mở rộng không gian tham gia của các chủ thể ngoài Nhà nước, từng bước hình thành mô hình quản trị đa chủ thể trong lĩnh vực môi trường.
Thực tiễn tại các địa phương cho thấy nhiều mô hình cộng đồng tiêu biểu đã được triển khai hiệu quả, như mô hình “Hội Dưỡng sinh thu gom rác thải nhựa” và “Ngôi nhà xanh” hay “Phụ nữ 5 không, 3 sạch” tại thành phố Cần Thơ, qua đó vừa thúc đẩy phân loại rác tại nguồn, vừa tạo nguồn lực hỗ trợ cộng đồng. Sự vận hành của các mô hình này phản ánh nỗ lực giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong một lĩnh vực phức tạp như bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Soi chiếu với lý thuyết quản trị có sự tham gia, đây là tiền đề quan trọng cho quá trình chuyển dịch từ quản lý hành chính sang quản trị mạng lưới, trong đó quyền lực và trách nhiệm được phân bổ giữa nhiều chủ thể (Fung, 2006). Tuy nhiên, để tiến trình chuyển đổi này thực chất hơn, ở Việt Nam cần tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền[4] [5] và các hình thức khen thưởng cần thực chất hơn, có tính tôn vinh, động viên xứng đáng hơn đối với người dân và doanh nghiệp.
Ngoài ra, từ các cuộc phỏng vấn sâu người dân tại 4 tỉnh, thành phố, chúng tôi phát hiện thêm một số ý kiến phản ánh vai trò của chính quyền cùng tổ chức tự quản quần chúng trong việc thúc đẩy sự tham gia của người dân. Điều này được thể hiện cụ thể ở
Hộp 6: Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, tổ chức tự quản đối với sự tham gia của người dân vào chu trình chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH
| “[Chính quyền] địa phương đã vào cuộc nhanh chóng xử lý, khắc phục giúp bà con nông dân một số vấn đề ô nhiễm môi trường.” (Nam, 1949, phường Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh). “Cấp uỷ Đảng, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xuống các chi bộ thôn và chi bộ thôn đã chỉ đạo sâu sát thôn, vận động nhân dân thực hiện công tác vệ sinh môi trường đảm bảo sạch, đẹp” . (Nữ, 1990, xã Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh). |
Nguồn: Phỏng vấn của nhóm nghiên cứu, ILPA & RLS (2025).
3) Những khó khăn và rào cản trong phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và các thiết chế cộng đồng trong thúc đẩy sự tham gia của người dân vào chu trình chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
Để nhận diện những rào cản trong việc hiện thực hóa vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và các thiết chế cộng đồng, nghiên cứu không chỉ dựa vào cảm nhận chủ quan mà đối chiếu với các chỉ báo quản trị môi trường ở bốn địa phương khảo sát. Trên cơ sở tái phân tích dữ liệu PAPI giai đoạn 2023–2024 và kết quả thực hiện Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) giai đoạn 2021–2023, có thể nhận diện một số điểm nghẽn đáng chú ý.
Thứ nhất, dữ liệu PAPI cho thấy cả bốn địa phương (Bắc Ninh, Tây Ninh, Quảng Ninh và Thành phố Cần Thơ) đều có điểm số quản trị môi trường ở mức thấp, không vượt quá 1,5/10 điểm. Dù giai đoạn 2023–2024 ghi nhận xu hướng cải thiện nhẹ, mức tăng là rất hạn chế (Bắc Ninh: +0,01 điểm; Tây Ninh: +0,24 điểm; Cần Thơ: +0,02 điểm), cho thấy sự chuyển biến mang tính điều chỉnh kỹ thuật hơn là cải cách mang tính cấu trúc.
Khoảng cách giữa mức độ đồng thuận cao của người dân về vai trò của chính quyền cơ sở (như đã phân tích ở mục trước) và điểm số quản trị môi trường thấp đặt ra một nghịch lý chính sách: niềm tin xã hội chưa được chuyển hóa tương xứng thành hiệu quả quản trị. Điều này gợi mở rằng vấn đề không chỉ nằm ở ý chí chính trị hay truyền thông chính sách, mà ở năng lực thực thi, cơ chế phối hợp liên ngành và mức độ phân quyền thực chất ở cấp cơ sở.
Khi hiệu quả quản trị môi trường chưa được cải thiện đáng kể, sự tham gia của người dân dễ rơi vào trạng thái “được khuyến khích nhưng khó tạo ảnh hưởng”. Đây chính là rào cản mang tính cấu trúc: hệ thống chính trị cơ sở được kỳ vọng đóng vai trò cầu nối giữa nhà nước và xã hội, nhưng lại vận hành trong không gian thể chế còn hạn chế về thẩm quyền, nguồn lực và cơ chế giải trình.
Hình 4: Nghiêm túc trong quản trị môi trường của các tỉnh, thành phố (điểm)
Ghi chú: *Dữ liệu này đã bao gồm của các tỉnh, thành phố khác được sáp nhập vào kể từ sau ngày 01/7/2025. Năm 2023, dữ liệu tỉnh Quảng Ninh bị khuyết.
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu PAPI[6].
Hai là, dữ liệu từ Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) cho thấy xu hướng suy giảm đáng lo ngại về hiệu lực và hiệu quả quản trị môi trường tại cả bốn địa phương. Trong giai đoạn theo dõi, tất cả đều giảm từ 8 đến gần 12 điểm phần trăm. Quảng Ninh ghi nhận mức giảm mạnh nhất (-11,53 điểm), tiếp đến là Tây Ninh (-10,94 điểm), Bắc Ninh (-10,70 điểm) và Thành phố Cần Thơ (-8,38 điểm). Sự suy giảm đồng loạt này không chỉ phản ánh biến động kỹ thuật của chỉ số, mà cho thấy những hạn chế mang tính hệ thống trong năng lực thực thi và duy trì cam kết chính sách. Đáng chú ý, đây đều là những địa phương có áp lực môi trường lớn hoặc chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, nhưng hiệu quả quản trị lại có xu hướng đi xuống. Điều này đặt ra một nghịch lý: nơi nhu cầu cải thiện quản trị môi trường cấp thiết nhất lại chưa tạo được chuyển biến tương xứng về năng lực điều hành và điều phối chính sách.
Bảng 1: Kết quả thực hiện Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường PEPI (%)
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Các kết quả trên cho thấy hạn chế trong quản trị môi trường không chỉ là vấn đề chỉ số, mà phản ánh những điểm nghẽn trong cơ chế vận hành và phối hợp chính sách. Những hạn chế này có liên hệ trực tiếp với chất lượng tham gia và khả năng đồng kiến tạo chính sách của người dân và các bên liên quan, đồng thời cho thấy khoảng cách giữa kỳ vọng xã hội và năng lực thể chế ở cấp cơ sở. Trên cơ sở phân tích báo cáo của các xã, phường và nội dung tọa đàm chuyên sâu với lãnh đạo địa phương, người dân và đại diện các thiết chế tự quản, nghiên cứu nhận diện một số rào cản chủ yếu như sau:
Thứ nhất, hoạt động tuyên truyền, vận động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở chưa tạo được chuyển biến tương xứng về nhận thức và hành vi môi trường.
Người dân chủ yếu tiếp cận thông tin về bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua các cuộc họp khu dân cư và hệ thống loa truyền thanh xã – những kênh truyền đạt còn mang tính một chiều. Việc thiếu các hình thức đối thoại, giải thích trực tiếp và gắn với lợi ích thiết thân khiến thông tin tuyên truyền khó chuyển hóa thành thay đổi hành vi bền vững.
Thực tế tại một số địa bàn cho thấy, một bộ phận người dân vẫn coi hoạt động chăn nuôi gây ô nhiễm là khó tránh khỏi; việc vứt chai lọ thuốc bảo vệ thực vật xuống ao, suối, bờ ruộng vẫn được xem là thói quen “bình thường”. Các ý kiến ghi nhận tại các cuộc tọa đàm ở thành phố Cần Thơ cho thấy rõ khoảng cách giữa tuyên truyền và thay đổi hành vi: dù đã được nhắc nhở và cam kết không tái phạm, nhiều hộ dân vẫn quay lại cách làm cũ. Cán bộ cơ sở gặp khó khăn trong vận động, trong khi người dân – phần lớn là nông dân – chưa được tiếp cận đầy đủ thông tin phù hợp với bối cảnh sản xuất và sinh kế của mình.
Điều này phản ánh một hạn chế căn bản: tuyên truyền chưa gắn với cơ chế giám sát, chế tài và hỗ trợ thay đổi thực hành sản xuất; đồng thời chưa tính đến yếu tố thói quen, lợi ích kinh tế và năng lực tiếp nhận thông tin của cộng đồng.
Bên cạnh đó, việc huy động sự tham gia chủ động của người dân trong phát hiện sớm vấn đề môi trường và giám sát thực thi chính sách còn hạn chế. Trong một số trường hợp, việc lấy ý kiến cộng đồng mang tính thủ tục, chưa thực sự tạo điều kiện để các nhóm xã hội khác nhau bày tỏ quan điểm và được phản hồi đầy đủ. Khoảng cách giữa tham vấn hình thức và tham gia thực chất vì vậy vẫn là một rào cản đáng kể trong phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở.
Đặc biệt, các hội nghị lấy ý kiến cộng đồng thường được tổ chức theo quy trình hành chính khép kín, thiếu cơ chế phản hồi chính sách, khiến người dân khó nhận diện được giá trị thực chất của sự tham gia khi các ý kiến và sáng kiến không được tiếp thu, sử dụng hoặc giải trình thỏa đáng. Nghiên cứu của OECD (2020) chỉ ra rằng nhiều quốc gia đang phát triển, dù mức độ tiếp cận thông tin chính sách cao tương đối cao, song ảnh hưởng thực tế của người dân đối với quyết định chính sách còn hạn chế do thiếu các cơ chế phản hồi và trách nhiệm giải trình hiệu quả. Các phát hiện từ nghiên cứu thực địa và các tọa đàm chuyên sâu cho thấy đây là vấn đề Việt Nam cần đặc biệt lưu ý trong quá trình thúc đẩy sự tham gia thực chất của người dân vào chu trình chính sách môi trường.
Thứ hai, cơ chế phối hợp giữa lãnh đạo xã, phường với các tổ chức chính trị – xã hội và các thiết chế tự quản trong công tác bảo vệ môi trường còn thiếu tính liên kết và thống nhất.
Việc mô hình “3N” chưa được vận hành đầy đủ khiến hoạt động bảo vệ môi trường và khắc phục hậu quả thiên tai ở một số địa bàn thiếu tính đồng bộ, chưa tạo được sự huy động rộng rãi của cộng đồng. Điều này phản ánh hạn chế trong điều phối liên chủ thể, phân công trách nhiệm chưa rõ ràng và cơ chế phối hợp còn mang tính hành chính nhiều hơn là hợp tác thực chất.
Trường hợp phường Cẩm Phả (Quảng Ninh) là một ví dụ điển hình. Đây là địa bàn có hoạt động khai thác than quy mô lớn, thuộc sự quản lý của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Trong khi chính quyền cơ sở và người dân trực tiếp chịu tác động môi trường, thẩm quyền giám sát và xử lý vi phạm của địa phương lại còn hạn chế. Sự phân tán quyền lực giữa cấp quản lý ngành và cấp chính quyền địa phương làm suy giảm khả năng phản ứng chính sách ở cấp cơ sở.
Trong nhiều trường hợp, cơ chế phối hợp giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp chưa rõ ràng, trách nhiệm chưa được phân định minh bạch, dẫn đến tình trạng ô nhiễm kéo dài và gia tăng bức xúc xã hội trước các bãi thải than. Thực tiễn này cho thấy sự lệch pha giữa nơi chịu tác động môi trường và nơi nắm quyền quyết định, qua đó làm suy yếu vai trò điều phối và huy động xã hội của hệ thống chính trị cơ sở trong quản trị môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ ba, một số quy định về BVMT và thích ứng với BĐKH được các địa phương ban hành nhưng chưa thực sự phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng thực hiện của người dân, địa phương. Chẳng hạn, việc thu phí rác thải theo khối lượng đòi hỏi hạ tầng phân loại phức tạp, đồng bộ và kỹ thuật phức tạp, trong khi nhiều địa phương chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết. Đáng chú ý, vai trò và sự tham gia của người dân và các tổ chức cộng đồng còn khá mờ nhạt trong một số quy định hiện hành, đặc biệt trong quá trình lựa chọn nhà thầu, đơn vị thu gom - xử lý rác thải, cũng như trong các hoạt động kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất đối với các vấn đề môi trường tại địa phương, v.v. Điều này làm suy giảm tính khả thi và mức độ tham gia thực chất của cộng đồng trong chu trình chính sách.
Đặc biệt, ngay trong Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) mới nhất được ban hành theo Quyết định số 383/QĐ-BTNMT ngày 10/02/2025 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, sự tham gia của người dân cũng như mức độ huy động đồng tham gia của chính quyền, tổ chức tự quản đối với người dân ở lĩnh vực này vẫn chưa trở thành tiêu chí phản ánh hiệu quả quản trị môi trường. Thực trạng này cũng tương tự tại Thông tư số 07/2025/TT-BNNMT ngày 16/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về phân cấp, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường và biến đổi khí hậu.
Thứ tư, bối cảnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đặt ra nhiều thách thức đối với công tác BVMT và thích ứng với BĐKH. Ở cấp tỉnh các nhiệm vụ BVMT và thích ứng với BĐKH khí hậu được giao cho Sở Nông nghiệp và Môi trường. Trong khi đó tại cấp xã, Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phải đảm nhiệm khối lượng lớn các nhiệm vụ đa ngành, bao gồm: tài chính - kế hoạch (5 nhóm nhiệm vụ), xây dựng và công thương (15 nhóm nhiệm vụ), nông nghiệp và môi trường (15 nhóm nhiệm vụ). Chính quyền địa phương hai cấp vừa mới được thiết lập, đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu phải tiếp nhận nhiều công việc mới, khối lượng công việc gia tăng, thẩm quyền phức tạp hơn trong khi biên chế bị khống chế. Đồng thời, chính quyền cấp cơ sở phải quản lý trên địa bàn rộng, lĩnh vực mới và khó, cùng với hàng loạt quy định, chính sách mới về BVMT và BĐKH. Trong bối cảnh này, nguy cơ sao nhãng hoặc chưa phát huy đầy đủ vai trò và nguồn lực của người dân, cộng đồng trong chu trình hoạch định và thực thi chính sách BVMT, thích ứng với BĐKH là khá rõ rệt.
Tóm lại, Bài viết đã làm rõ vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và các thiết chế tự quản cộng đồng trong thúc đẩy sự tham gia của người dân vào chu trình chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ đồng thuận và kỳ vọng xã hội đối với chính quyền cơ sở là tương đối cao. Tuy nhiên, các chỉ báo quản trị môi trường (PAPI, PEPI) lại phản ánh những hạn chế đáng kể về hiệu lực và hiệu quả thực thi chính sách tại địa phương. Khoảng cách giữa niềm tin xã hội và kết quả quản trị cho thấy sự tham gia của người dân chưa được chuyển hóa đầy đủ thành tác động chính sách thực chất.
Những rào cản được nhận diện - từ hình thức tuyên truyền còn một chiều, cơ chế tham vấn mang tính thủ tục, đến sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa các chủ thể và giới hạn thẩm quyền ở cấp cơ sở – cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở nhận thức, mà ở cơ chế thể chế và năng lực phối hợp liên ngành. Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được vận hành, việc tái cấu trúc quan hệ giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng trở thành điều kiện then chốt để bảo đảm quản trị môi trường hiệu quả và bền vững.
Để cải thiện thực trạng này, trước hết cần chuyển từ cách tiếp cận “huy động tham gia” sang “thiết kế cơ chế tham gia”. Điều đó đòi hỏi thiết lập các kênh đối thoại định kỳ, cơ chế phản hồi có ràng buộc trách nhiệm giải trình và tăng cường vai trò giám sát xã hội của cộng đồng. Bên cạnh đó cần làm rõ phân cấp, phân quyền trong quản lý môi trường, bảo đảm chính quyền cơ sở có đủ thẩm quyền và công cụ pháp lý để xử lý vi phạm, đặc biệt trong các lĩnh vực có tác động môi trường lớn. Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng tương tác cộng đồng cho đội ngũ cán bộ cơ sở, đồng thời gắn tuyên truyền với hỗ trợ thay đổi thực hành sản xuất và sinh kế bền vững.
Những giải pháp này cần được tiếp tục phân tích sâu hơn trong mối liên hệ với cải cách thể chế, cơ chế tài chính và mô hình quản trị đa cấp, nhằm bảo đảm sự tham gia của người dân không dừng ở mức độ biểu đạt ý kiến, mà thực sự trở thành động lực đồng kiến tạo trong bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
PGS.TS Lê Văn Chiến và TS. Lê Trọng Thưởng[2] và Đặng Thị Ánh Tuyết[3]
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Quyết định số 383/QĐ-BTNMT ngày 10/02/2025 về việc ban hành Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hà Nội.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2023). Kết quả thực hiện Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) năm 2021–2023. Hà Nội.
- Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) (2023). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2023. Hà Nội.
- Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), VFF-CRT và UNDP (2024). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI). Hà Nội.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2023,2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (2023, 2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2023,2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường.
- Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ (2023.2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trườn.
- Nhóm nghiên cứu (2024). Biên bản tọa đàm chuyên sâu và phỏng vấn sâu với lãnh đạo địa phương, đại diện thiết chế tự quản và người dân tại Bắc Ninh, Tây Ninh, Quảng Ninh và Thành phố Cần Thơ. Tài liệu lưu hành nội bộ.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố khảo sát (2023–2024). Báo cáo công tác giám sát và phản biện xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
[1] Viện Lãnh đạo học và Hành chính công (2025). Thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Báo cáo nghiên cứu thuộc dự án được hỗ trợ bởi Quỹ Rosa-Luxemburg (Rosa-Luxemburg-Stiftung – RLS) tại Việt Nam. Hà Nội.
[2] Viện Lãnh đạo học và Hành chính công, Học viện CTQG Hồ Chí Minh
[3] Học viện CTQG Hồ Chí Minh
[4] Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chính phủ về trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
[5] Ban Chấp hành Trung ương (2025), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 26/10/2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ.
[6] Nội dung “Nghiêm túc bảo vệ môi trường” được tính toán lại từ điểm số trục nội dung “quản trị môi trường” của Báo cáo PAPI năm 2023 và 2024. Nội dung này được tính trên thang điểm 10. (xem tại: CECODES, RTA & UNDP (2024). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI): Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân năm 2023. Báo cáo nghiên cứu chính sách chung của Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES), Công ty Phân tích Thời gian thực (RTA) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP). Hà Nội, Việt Nam, tr.85; CECODES, RTA & UNDP (2025). Tài liệu đã dẫn. Hà Nội, Việt Nam, tr.86).